AZ PET chào đọc giả. Today, chúng tôi xin chia sẽ về các chủ đề ít người biết xung quanh cuộc sống bằng bài chia sẽ Một Số Từ Hán Việt
Đa số nguồn đều đc update thông tin từ những nguồn website lớn khác nên sẽ có vài phần khó hiểu.
Mong mỗi cá nhân thông cảm, xin nhận góp ý and gạch đá dưới comment
Mong bạn đọc đọc nội dung này ở nơi riêng tư kín để có hiệu quả cao nhất
Tránh xa tất cả các dòng thiết bị gây xao nhoãng trong các công việc tập kết
Bookmark lại bài viết vì mình sẽ cập nhật liên tiếp

HÂN VIỆT VÀ ‘NGƯỜI VIỆT’ TỪ CHUNG CƯ HAN TẠO RA HÂN VIỆT NAM
* Ngô Thị Minh Nguyệt – K7 ĐH
1. Đặt vấn đề
Từ Hán Việt là chủ đề được bàn tán từ lâu nhưng vẫn luôn là chủ đề nóng. Bởi vì, ngoài là đối tượng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, nó còn là một hiện tượng liên quan đến giao tiếp hàng ngày nên được nhiều người quan tâm. Cách dùng từ Hán Việt như thế nào được gọi là đúng và thế nào là sai là một vấn đề không hề đơn giản. Trong nội dung tranh luận về từ Hán Việt, nhiều người đặt câu hỏi về sự sai lệch ngữ nghĩa của từ gốc Hán Việt và từ Hán Việt. Có ai rành tiếng Hán biết cách dùng từ Hán Việt đúng không? Đó là vấn đề mà bài viết này muốn đề cập.
2. Sự khác nhau giữa nghĩa gốc Hán và nghĩa Hán Việt
Từ Hán Việt là một hiện tượng phức tạp. Đó là kết quả của quá trình giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ giữa hai dân tộc Hán và Việt trong nhiều thế kỷ. Do những lý do lịch sử và địa lý đặc biệt, sự tiếp xúc ngôn ngữ của hai ngôn ngữ này có những đặc điểm riêng khó tìm thấy ở những tiếp xúc ngôn ngữ khác. Vì vậy, tính chất, đặc điểm, cách dùng của từ Hán Việt cũng khác hoàn toàn so với các loại từ khác cũng do tiếp xúc ngôn ngữ, như: Hán – Nhật, Hán – Hàn, Triều – Triều … Sự khác biệt này được thể hiện trước hết là ở khía cạnh khối lượng từ Hán Việt trong kho từ vựng tiếng Việt rất lớn (Theo kết quả thống kê từ vựng, trong một số phong cách chức năng, ví dụ, trong phong cách hành chính). , số lượng từ Hán Việt lên tới 80-85%. Thứ hai, việc xử lý các yếu tố Hán (từ Hán) trong tiếng Việt cũng hoàn toàn khác với các ngôn ngữ trong cùng khu vực có tiếp xúc với tiếng Hán. Đây là những lý do khiến các nhà nghiên cứu không chỉ của Việt Nam mà cả Trung Quốc đều phải thừa nhận: Từ Hán Việt là một loại từ đặc biệt trong vốn từ vựng tiếng Việt. Nó là một loại từ mượn nhưng không hoàn toàn là từ mượn.
Bạn đang xem: Một số từ tiếng Trung
Ví dụ, theo nghĩa tiếng Việt: từ “chung cư” dùng để chỉ tòa nhà gồm nhiều hộ gia đình sinh sống, bên trong chung cư có các căn hộ khép kín để các gia đình sinh sống. Theo nghĩa Hán: “chung cư” là nơi sinh sống cuối cùng, tức là mồ mả hay nghĩa trang. Có sự khác biệt giữa nghĩa gốc Hán và nghĩa Việt, nhưng người Việt luôn hiểu và sử dụng từ chung cư là ngôi nhà cho nhiều hộ gia đình sinh sống.
Từ Hán Việt là những từ dùng trong tiếng Việt có gốc Hán nhưng đọc theo âm Việt. Có nhiều người hiểu rằng từ Hán Việt được dùng theo nghĩa Hán và là do người Việt mượn để sử dụng. Thực tế, đây là cách hiểu máy móc. Khi xét nghĩa của từ Hán Việt, chúng ta không thể quy theo kiểu tương phản với nghĩa của từ gốc Hán. Đây là một việc làm có phần cứng nhắc, dẫn đến mất đi tính năng động của từ Hán Việt vốn là sự sáng tạo linh hoạt của người Việt. Trên thực tế, các từ Hán khi du nhập vào tiếng Việt hầu hết đã bị biến đổi do áp lực của cấu trúc tiếng Việt. Tức là sau một thời gian, bản chất Hán ngữ của những từ này đã bị tiếng Việt đồng hóa khiến chúng không còn hình dáng ban đầu. Hoặc là biến đổi ngữ âm, hoặc là biến đổi ngữ nghĩa theo nhận thức mới của người Việt qua lớp vỏ âm nguyên bản. Có vô số trường hợp mà điều này có thể được trích dẫn. Ví dụ, từ “hy sinh” trong tiếng Trung Quốc có nghĩa là một con vật được hiến tế cho trời hoặc cho một vị thần. Nhưng khi sang tiếng Việt, nó có nghĩa là “chết vì nghĩa cao cả” hoặc “tự nguyện chấp nhận những mất mát, mất mát vì lợi ích chung của cộng đồng” (ví dụ:Các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ Tổ quốc.).Từ “ngô kho”, từ Hán Việt có nghĩa là “lớn”, và từ Hán Việt có nghĩa là “thông minh”. Khi vay mượn, ngôn ngữ vay mượn có thể được thay đổi theo quy ước của nó để sử dụng nó một cách thích hợp. không nhất thiết phải sử dụng xi gốc.
3. Cách Việt hóa từ Hán để tạo thành từ Hán Việt.
Người Việt đã Việt hóa từ Hán để tạo thành từ Hán Việt chủ yếu theo 3 cách sau:
3.1. Thay đổi kết cấu
Phổ biến nhất là xu hướng rút gọn một loạt các từ ghép thành một từ đơn:Văn học(văn học, văn học),Comeinand(đơn đặt hàng),Bảo hành(đảm nhận),thuật ngữ(khoảng thời gian),điều chỉnh(nữ tính),thô ráp(gắt)… Không chỉ rút gọn, người Việt còn phát triển từ ghép tiếng Việt theo công thức: Từ Việt + Từ Hán. Ví dụ:trân trọng, bao gồm, hiển thị, bình luận, biến đổi, phong phú, kỳ diệu, sống động…
Ngay cả những từ ghép có gốc Hán hoàn toàn, khi trở thành từ Hán Việt cũng bị đảo lộn vị trí. Ví dụ:nhộn nhịp(Han: huyên náo),di chuyển(Han: di chuyển),tố cáo(Hán: tố cáo),phóng thích(Han: thích ra mắt)…
Bên cạnh đó, cũng có những từ ghép hoàn toàn có nguồn gốc từ tiếng Hán, nhưng người Việt đã thay thế hoàn toàn một yếu tố nào đó để sử dụng:họa sĩ(Tiếng Việt) –họa sĩ / họa sĩ(Hán);kỹ lưỡng – kỹ lưỡng… Ngay cả những cấu trúc tiếng Hán rất ổn định và rất ổn định là thành ngữ, chúng cũng phải thay đổi khi chúng trở thành thành ngữ Hán Việt. Các từ trong ngoặc đơn trong các ví dụ sau đây đều có nguồn gốc Trung Quốc: Nhất Sinh (Cửu Tử) (Cửu Tử, Một Sinh), An Định Tố Thượng (Một Ý Định Làm Người), An Thượng Đường Hòa Bình (Một Con Đường Bình An). )…
3.2. Thay đổi ngữ nghĩa
Với từ ghép nhiều nghĩa, người Việt chỉ chọn một số nghĩa nhất định. Ví dụ từphù phiếm, chúng ta chỉ dùng nghĩa bóng là “không thiết thực” chứ không dùng nghĩa đen “đi thuyền nan”. Trong nhiều trường hợp, khi vay mượn từ gốc Hán, người Việt đã chủ động phát triển một số nghĩa không có trong tiếng Hán. Từ Hántuyệt đốivốn có nghĩa là “dặn dò”, khi trở thành từ Hán Việt, nó mang nghĩa mới là “ôn hòa”. Hoặc từlo lắngcó nghĩa là “đi tới đi lui”, người Việt còn hiểu là “bồn chồn, không yên”.
Ngoài ra, khi mượn từ gốc Hán, người Việt cũng chuyển nghĩa hoàn toàn: hình thức vay mượn, nhưng nghĩa hoàn toàn khác. Thích từRapture, từ Hán Việt có nghĩa là “mơ hồ, không rõ ràng”, từ Hán Việt có nghĩa là “rất hay, rất hấp dẫn”. Hoặchung dữ, từ Hán có nghĩa là “lạnh lùng”, từ Hán Việt có nghĩa là “uy nghiêm”.
3.3. Thay đổi phép tu từ màu sắc
Thông thường, với hai từ đồng nghĩa (một từ Hán Việt và một từ thuần Việt) thì dùng từ Hán Việt trang trọng hơn, hoặc trang trọng hơn. Ví dụ: tuổi thọ / tuổi thọ cao; chết / chết chóc; đàn bà / đàn bà; trẻ sơ sinh / trẻ em; vợ / vợ; mẹ / con; …
Tuy nhiên, có những từ Hán Việt mang màu sắc tu từ đối lập với từ gốc Hán. Ví dụ:Tham vọngTrong tiếng Hán, nó chỉ có nghĩa là “tham vọng”, nhưng khi chuyển sang từ Hán Việt thì nó có nghĩa là “lòng dạ hiểm độc”.Hành lýcó nghĩa là “tận cùng”, “tận cùng”, nhưng trong tiếng Việt nó là “khốc liệt, khốc liệt”.Thủ thuậtTrong tiếng Trung, nó có nghĩa là “phương pháp, kỹ thuật”, nhưng đối với chúng tôi, đây là một từ để chỉ “mánh khóe, thủ thuật” theo nghĩa xấu.
4. Kết luận
Từ Hán Việt là một bộ phận đặc biệt của tiếng Việt. Bằng việc vay mượn sáng tạo Việt hóa nguồn gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt đã, đang và sẽ làm phong phú thêm ngôn ngữ của dân tộc.
Xem thêm: Truyện Tranh Bí Ẩn 2 Tập 10, Sách Bí Ẩn (Tr
Ngôn ngữ xét cho cùng là để phục vụ cho quá trình giao tiếp, dù được sử dụng với ý nghĩa gì thì mục đích cuối cùng vẫn là để người giao tiếp hiểu được vấn đề mà người giao tiếp muốn truyền đạt. Ngôn ngữ chỉ có ý nghĩa khi nó được mọi người trong cộng đồng đó sử dụng và chấp nhận. Vậy thiết nghĩ, nếu từ Hán Việt được dùng theo nghĩa gốc Hán mà người Việt không hiểu, không dùng và không chấp nhận thì ngôn ngữ đó còn có ý nghĩa gì nữa? Cách sử dụng từ Hán Việt của người Việt là Việt hóa các từ gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt. Đây là sự tiếp thu có chọn lọc văn hóa nói chung và ngôn ngữ nói riêng theo hướng hòa nhập nhưng không hòa tan nhằm bảo tồn, sáng tạo và phát huy ngôn ngữ của dân tộc mình.
Người giới thiệu
1. Nguyễn Tài Cẩn (2001).Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Nguyễn Thiện Giáp (1996).Giới thiệu về Ngôn ngữ học, NXB Tình dục.
3. Tiếng Việt (2013).Từ điển tiếng Việt, NXB Hồng Đức.
4. Võ Ngân Vương (2012).Từ Hán Việt – Các khía cạnh Việt hóa, Tạp chí Tài năng trẻ.
Thể loại: Chung
Nguồn tổng hợp
from Duy Pets https://ift.tt/2WzoCHj




















































































































































